Phương pháp bảo quản giống vi sinh

Phương pháp bảo quản giống vi sinh

Mục đích:

Đảm bảo được tính chất của giống (duy trì gần như nguyên vẹn đặc tính ban đầu của giống ở vi sinh vật (VSV) trước lúc cất giữ) đủ tiêu chuẩn cho quá trình sản xuất.

Nguyên tắc:

Làm chậm quá trình hô hấp và trao đổi chất của VSV. Đồng thời ngăn cản sự sinh sản của chúng.

Phương pháp:

  • Bước 1: Tiền bảo quản, chọn chủng VSV ở điều kiện và giai đoạn tối ưu cho bảo quản.
  • Bước 2: chọn phương pháp thích hợp cho bảo quản.

Phương pháp bảo quản giống:

Hiện nay có nhiều phương pháp để giữ giống VSV. Tuỳ theo điều kiện mà bạn có thể chọn phương pháp thích hợp.

1. Bảo quản trên môi trường thạch bằng, định kỳ kiểm tra cấy truyền

         Giống VSV được giữ trên môi trường thạch nghiêng (đối với các VSV hiếu khí), hoặc chích sâu vào trong môi trường thạch (đối với VSV yếm khí). Các ống được bảo quản trong tủ lạnh ở nhiệt độ 3-5 độ C. Định kỳ cấy truyền giống, tùy từng nhóm VSV khác nhau mà định kỳ cấy truyền khác nhau. Tuy nhiên giới hạn tối đa là 3 tháng.
To-nam-rom-cap-1
         Để giữ giống được tốt, lâu hơn và đỡ bị tạp hơn. Người ta thường phủ lên môi trường đã được cấy giống VSV một lớp dầu khoáng như parafin lỏng. Lớp parafin này sẽ hạn chế được sự tiếp xúc của VSV đối với oxy không khí và hạn chế sự thoát hơi nước của môi trường thạch. Do vậy giống có thể được bảo quản lâu hơn và ít bị nhiễm tạp, thối hóa

2. Giữ giống trong cát hoặc trong đất sét vô trùng

– Do cấu trúc lý hóa, cát và đất sét là những cơ chất tốt mang các tế bào VSV, chủ yếu là nhóm VSV có bào tử. Cách làm như sau: cát và đất được xử lý sạch, sàng lọc qua rây, xử lý pH đạt trung tính, sấy khô và khử trùng. Sau đó bằng thao tác vô trùng, trộn bào tử vào cơ chất cát hoặc đất sét trong các ống nghiệm. Dùng parafin nóng chảy phết lên nút bông của ống nghiệm để giúp cho ống nghiệm không bị ẩm trở lại

Kỹ-thuật-bảo-quản-chủng-giống-vi-sinh-vật-ATCC

– Ngoài giữ giống trong cát và đất sét, người ta còn giữ trong hạt ngũ cốc hay trên silicagen… 

3. Giữ giống bằng phương pháp lạnh đông

– Phương pháp này dựa trên nguyên tắc ức chế sự phát triển của VSV. Đưa chúng vào điều kiện lạnh sâu ở khoảng -25 độ C đến -27 độ C. Người ta trộn VSV với dung dịch bảo vệ hay còn gọi là dung dịch nhũ hóa như glycerin 15%, huyết thanh ngựa (loại không có chất bảo quản), dung dịch glucoza hoặc lactoza 10%…, việc làm lạnh được tiến hành một cách từ từ. Khi nhiệt độ đạt -20 độ C, nếu tiếp tục làm lạnh thì phải ở tốc độ 1-2 độ C/phút;

– Phương pháp này có ưu điểm là bảo quản được lâu

+ Giữ ở nhiệt độ từ -15 độ C đến -20 độ C thì 6 tháng cấy truyền lại 1 lần.

+ Giữ ở nhiệt độ -30 độ C thì 9 tháng cấy truyền lại 1 lần.

+ Giữ ở nhiệt độ -40 độ C thì 12 tháng cấy truyền lại 1 lần.

+ Giữ ở nhiệt độ -50 độ C thì 3 năm cấy truyền lại 1 lần.

+ Giữ ở nhiệt độ -70 độ C thì 10 năm cấy truyền lại 1 lần.

4. Giữ giống bằng phương pháp đông khô

– Về nguyên tắc cũng giống như phương pháp lạnh đông, nhưng khác ở chỗ là đưa chất bảo vệ vào như: glutamat 3%, lactozơ 1,2%+pepton 1,2%, saccarozơ 8%+sữa 5%+gêlatin,5%.

– Điều khác biệt thứ 2 với phương pháp lạnh đông. Để đảm bảo an toàn hơn cho sự sống của tế bào giống, người ta làm mất phần nước trong tế bào và môi trường có chất bảo vệ trong thiết bị đông khô ở áp suất 1.10-4mmHg.
8
– Hỗn hợp tế bào giống và dung dịch bảo vệ được chứa trong các ampul thủy tinh có đường kính 10-15mm được hàn kín. Để đảm bảo độ khô và chân không cần thiết. Những ampul nầy được bảo quản ở nhiệt độ 3-5 độ C hay ở nhiệt độ phòng.

Đây là phương pháp bảo quản tối ưu nhất hiện nay, có thể tới vài chục năm mới phải làm lại.

Hoạt hóa giống:

Trong sản suất, việc hoạt hóa giống và thường xuyên kiểm tra chất lượng của giống là hết sức cần thiết và không thể thiếu. Muốn làm khâu này tốt, cần phải làm các phần việc sau:

– Kiểm tra độ thuần khiết của giống.

– Kiểm tra khả năng hồi biến của giống. Hầu hết chủng VSV dùng trong sản xuất là đột biến. Do đó phải kiểm tra xem chúng có hồi trở lại giống gốc của chúng hay không, hiện tượng này rất hay xảy ra.

– Hoạt hóa giống sau một thời gian sử dụng. Để hoạt hóa giống người ta thường sử dụng môi trường nuôi cấy giàu các chất kích thích sinh trưởng. Ví như: cao nấm men, nước chiết cà chua, hỗn hợp vitamin, axit béo

Bình luận

Đối tác nước ngoài